học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách hồ chí minh

Tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường cách mạng Việt Nam
Ngày đăng 18/05/2018 | 15:55  | Lượt xem: 228

Cứ mỗi độ tháng 5 về, tất cả người dân Việt Nam lại không khỏi bồi hồi nhớ về Bác Hồ muôn vàn kính yêu của chúng ta - Người thầy vĩ đại của cách mạng Việt Nam, vị Cha già của dân tộc - Người đã hiến dâng trọn cả cuộc đời mình cho Tổ quốc, cho Dân tộc để toàn thể dân tộc Việt Nam được hưởng trọn vẹn nền độc lập, tự do, hạnh phúc.

Tất cả những cống hiến đó của Bác cho đất nước, cho non sông, cho Dân tộc và cho nhân loại đã vượt qua tất cả mọi thời gian để đưa Bác trở thành một hiện tượng văn hóa có tính chất vĩnh hằng như tổ chức Giáo dục-khoa học-văn hóa thế giới (UNESCO) phong tặng Bác - Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hóa thế giới.

Với 79 mùa xuân cuộc đời, trong đó 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước và gần 60 năm hoạt động chính trị, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã soạn thảo rất nhiều văn kiện lịch sử quan trọng. Song, có thể khẳng định rằng: “Đường cách mệnh” là một trong những tác phẩm có ý nghĩa hết sức to lớn quyết định về mặt tư tưởng, lý luận của Đảng cộng sản Việt Nam và sự lựa chọn con đường cách mạng đối với Việt Nam ở đầu thế kỷ XX.

Sinh ra và lớn lên trong bối cảnh đất nước bị chìm đắm trong đêm trường nô lệ của thực dân và phong kiến. Với lòng yêu nước, thương dân vô hạn, khâm phục ý chí không cam chịu làm nô lệ của đồng bào và những tấm gương đấu tranh cứu nước của các bậc tiền bối cách mạng. Song, không giống các bậc tiền bối, Hồ Chí Minh đã lựa chọn con đường cứu nước riêng của mình - đó là con đường đi ra nước ngoài - đi sang phương Tây để tìm đường giải phóng dân tộc khỏi tình cảnh bị áp bức, bị bóc lột, bị nô lệ.

Sau 10 năm bôn ba đi tìm đường cứu nước, Người đã tìm đến với chủ nghĩa Mác-Lênin. Khi gặp chủ nghĩa Mác-Lênin, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã chính thức từ một người yêu nước trở thành người cộng sản và là người cộng sản đầu tiên của Việt Nam. Người đã tìm thấy ở chủ nghĩa Mác-Lênin con đường cứu nước, giải phóng dân tộc - đáp ứng được lòng mong mỏi của cả dân tộc và sự khát vọng cháy bỏng của Người sau một thập niên bôn ba hải ngoại.

Với sự lựa chọn Quảng Châu - Trung Quốc là điểm dừng chân để hoạt động cách mạng. Tại đây, Người đã thành lập Hội Việt Nam cách mạng thanh niên, mở lớp huấn luyện chính trị, cho ra đời tờ báo Thanh niên; giảng dạy, huấn luyện đội ngũ cán bộ cách mạng về những nội dung cơ bản của Học thuyết Mác-Lênin, nhằm chuẩn bị cho sự ra đời của một chính đảng vô sản kiểu mới ở Việt nam. Tác phẩm “Đường cách mệnh” được tập hợp từ những bài giảng tại lớp huấn luyện cán bộ trong những năm 1925-1927 do Bộ tuyên truyền của Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức Á Đông ấn hành và được bí mật chuyển về nước trong bối cảnh Việt Nam đang khủng hoảng trầm trọng về đường lối, phương pháp và tổ chức lãnh đạo cách mạng, trong khi phong trào cách mạng của các dân tộc thuộc địa phát triển, nêu cao khẩu hiệu của Lênin: “Vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại”.

“Đường cách mệnh” là tác phẩm hàm chứa những tư tưởng lớn của Hồ Chí Minh về con đường cách mạng của Việt nam. Trong đó giá trị khoa học của Học thuyết Mác-Lênin được Người vận dụng đưa vào cách mạng Việt Nam hết sức độc đáo theo cách của riêng mình dễ hiểu, dễ thực hiện làm cho chủ nghĩa Mác-Lênin đến với Việt Nam như hạt giống đỏ được gieo trên mảnh đất tốt đã được chuẩn bị sẵn sàng. Đồng thời,“Đường cách mệnh” còn là tác phẩm lý luận cách mạng đầu tiên ở Việt Nam đã trả lời câu hỏi cách mệnh là gì? Hồ Chí Minh giải quyết vấn đề này rất rõ ràng, Người viết: “Cách mệnh là phá cái cũ đổi ra cái mới, phá cái xấu đổi ra cái tốt”. Và Hồ Chí Minh dẫn chứng rất cụ thể về cách mệnh - ví dụ như ông Galilê (1633) là nhà khoa học cách mệnh; ông Stêphenxông (1800) là nhà cơ khí cách mệnh - người phát minh ra xe lửa; ông Đácuyn (1859) là nhà cách vật cách mệnh; ông Mác là nhà kinh tế học cách mệnh - Ông ấy nghiên cứu rõ ràng tư bản chủ nghĩa, đế quốc chủ nghĩa, giai cấp tranh đấu…ở đâu mà sinh ra, lịch sử nó thế nào, hiện tượng nó ra làm sao và kết quả nó sẽ thế nào?

Từ đó, Người tiếp tục chỉ rõ về tư tưởng cách mệnh, về dân chúng cách mệnh thì cách mệnh có ba thứ: tư bản cách mệnh, dân tộc cách mệnh và giai cấp cách mệnh. Đồng thời, Người lý giải cụ thể cho chúng ta biết tại sao lại sinh ra tư bản cách mệnh, dân tộc cách mệnh, giai cấp cách mệnh, rồi Người khẳng định cách mệnh được chia thành hai thứ đó là: dân tộc cách mệnh như An Nam đuổi Pháp, Ấn Độ đuổi Anh, Philippin đuổi Mỹ, Tàu đuổi các đế quốc chủ nghĩa để giành lấy quyền tự do, bình đẳng của dân nước mình. Thứ hai là tất cả dân cày, người thợ trong thế giới bất kỳ nước nào, nơi nào đều liên hợp nhau lại như anh em một nhà, để đập đổ tất cả tư bản trong thế giới, làm cho nước nào, dân nào cũng được hạnh phúc, làm cho thiên hạ đại đồng - ấy là thế giới cách mệnh.

Với sự cắt nghĩa trên, Người đã đi vào phân tích làm rõ lịch sử cách mệnh Mỹ và ý nghĩa của nó với cách mệnh An Nam thế nào? Rồi đến cách mạng Pháp và cách mạng Pháp đối với cách mạng An Nam thế nào? Nó làm gương cho chúng ta về những gì? Và cuối cùng là Người đi vào nghiên cứu, phân tích làm rõ nội dung lịch sử cách mệnh Nga. Trong đó, Người đặc biệt quan tâm đến lịch sử cách mệnh 1917 của nước Nga, sau khi nghiên cứu tường tận lịch sử và kết quả của cách mệnh tháng Mười Nga, Người đã rút ra kết luận cách mệnh Nga đối với cách mệnh An Nam như thế nào? Người khẳng định, trong thế giới bây giờ chỉ có cách mệnh Nga là đã thành công, và thành công đến nơi, nghĩa là làm cho dân chúng được hưởng cái hạnh phúc tự do, bình đẳng thật, không phải tự do và bình đẳng giả dối như đế quốc chủ nghĩa Pháp khoe khoang bên An Nam. Cách mệnh Nga đã đuổi được vua, tư bản, địa chủ rồi, lại ra sức cho công, nông cả nước và dân bị áp bức các thuộc địa làm cách mệnh để đập đổ tất cả đế quốc chủ nghĩa và tư bản trong thế giới.

Cách mệnh Nga dạy cho chúng ta rằng muốn cách mệnh thành công thì phải dân chúng (công nông) làm gốc, phải có đảng vững bền, phải bền gan, phải hy sinh, phải thống nhất. Nói tóm lại là phải theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư và Lênin.

Có thể nói rằng, sau khi khảo nghiệm hàng loạt các cuộc cách mệnh lớn trên thế giới thì Hồ Chí Minh chỉ nhất trí, tán thành với cách mệnh tháng Mười Nga, Người cho rằng đây là cuộc cách mệnh đến nơi duy nhất trong lịch sử từ trước đến nay, Người đã tuyệt đối tin tưởng vào con đường cách mệnh đó và Người đã quyết định lựa chọn con đường cách mệnh của Việt Nam là đi theo con đường cách mệnh Tháng Mười Nga - con đường cách mệnh vô sản - con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội - con đường cách mệnh triệt để nhất - cách mệnh đến nơi nhất, giành lại trọn vẹn Độc lập - Tự do - Hạnh phúc cho nhân dân. Đó là sự lựa chọn dứt khoát của Hồ Chí Minh về con đường cho cách mạng Việt Nam, sự lựa chọn này về sau trong bài viết “Con đường cứu nước và giải phóng dân tộc trong thời đại ngày nay” Người tiếp tục khẳng định một lần nữa: muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản. Con đường đó đã được Hồ Chí Minh vận dụng một cách hết sức sáng tạo và độc đáo vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của cách mạng Việt Nam, Người đã trực tiếp cùng Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo nhân dân ta thực hiện thắng lợi cách mạng Tháng 8/1945 - cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, hay cuộc cách mạng giải phóng dân tộc nằm trong quỹ đạo của cách mạng vô sản, giành lại độc lập cho dân tộc, tự do, dân chủ, hạnh phúc cho nhân dân, soi sáng và là kim chỉ nam cho toàn thể dân tộc Việt Nam chiến thắng hai đế quốc hùng mạnh nhất thế giới. Ngày nay đất nước hòa bình, sự nghiệp đổi mới đang được đẩy mạnh, đang bước vào giai đoạn toàn cầu hóa và tích cực, chủ động hội nhập quốc tế thì nó đòi hỏi Đảng ta nói chung, mỗi cán bộ đảng viên nói riêng phải thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường cách mạng của Việt Nam để lãnh đạo toàn thể “Quốc dân đồng bào” giữ vững độc lập dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ, xây dựng thành công xã hội chủ nghĩa xã hội nhằm thỏa lòng mong ước của Bác, để chúng ta kính dâng lên Bác mỗi dịp ngày sinh của Người 19 tháng 5, để cho mỗi người con đất Việt thấy: nhớ đôi dép cũ nặng công ơn / yêu Bác lòng ta trong sáng hơn / xin nguyện cùng Người vươn tới mãi / vững như muôn ngọn dải Trường Sơn.

(Sưu tầm)